NHỮNG ĐIỂM MỚI
TRONG ĐIỀU LỆ ĐOÀN KHÓA X
NHIỆM KỲ 2012 - 2017
NHIỆM KỲ 2012 - 2017
Ngày
12/12/2012, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã
thông qua Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X. Việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ
Đoàn đã phản ánh được xu thế phát triển của thanh niên, của tổ chức Đoàn, đảm
bảo tính kế thừa những nội dung của Điều lệ Đoàn khóa IX và những bài học kinh
nghiệm về xây dựng Đoàn đã được tổng kết trong nhiệm kỳ 2007 - 2012. Điều lệ
Đoàn khóa X có những điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản sau:
1.
Về bố cục
Điều
lệ Đoàn khóa X gồm 12 chương, 42 điều (tăng thêm 01 chương và 04 điều so với
Điều lệ Đoàn khóa IX) để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu, tổ chức thực hiện
Điều lệ, đồng thời quy định rõ hơn về cơ quan lãnh đạo các cấp của Đoàn; nhiệm vụ,
mối quan hệ công tác giữa các cấp bộ Đoàn từ Trung ương đến cơ sở. Điều lệ Đoàn
khóa X gồm các chương sau:
- Chương I: Đoàn viên.
- Chương II: Nguyên tắc, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Đoàn.
- Chương III: Cơ quan lãnh đạo của Đoàn ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
- Chương IV: Tổ chức cơ sở Đoàn.
- Chương V: Đoàn Khối, Đoàn Ngành, Đoàn ở ngoài nước.
- Chương VI: Tổ chức Đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam.
- Chương VII: Công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn và Ủy ban Kiểm tra các cấp.
- Chương VIII: Khen thưởng và kỷ luật của Đoàn.
- Chương IX: Đoàn với các tổ chức Hội của thanh niên.
- Chương X: Đoàn phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
- Chương XI: Tài chính của Đoàn.
- Chương XII: Chấp hành Điều lệ Đoàn.
2. Về phần “Những vấn đề cơ bản về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh”
- Chương II: Nguyên tắc, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Đoàn.
- Chương III: Cơ quan lãnh đạo của Đoàn ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
- Chương IV: Tổ chức cơ sở Đoàn.
- Chương V: Đoàn Khối, Đoàn Ngành, Đoàn ở ngoài nước.
- Chương VI: Tổ chức Đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam.
- Chương VII: Công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn và Ủy ban Kiểm tra các cấp.
- Chương VIII: Khen thưởng và kỷ luật của Đoàn.
- Chương IX: Đoàn với các tổ chức Hội của thanh niên.
- Chương X: Đoàn phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
- Chương XI: Tài chính của Đoàn.
- Chương XII: Chấp hành Điều lệ Đoàn.
2. Về phần “Những vấn đề cơ bản về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh”
Sửa
đổi, bổ sung khổ thứ nhất và khổ thứ hai phần “Những vấn đề cơ bản về Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh” để thể hiện rõ tính chính trị của Đoàn; khẳng định Đoàn luôn là
đội dự bị tin cậy của Đảng, là lực lượng xung kích, đi đầu thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng và phù hợp với mục tiêu của Đảng đã nêu tại Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI; quan điểm mục tiêu xây dựng Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh và lớp thanh niên Việt Nam thời kỳ mới của Nghị quyết Hội nghị
lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.
3.
Về đoàn viên
Quy
định “tham gia sinh hoạt Đoàn tại nơi cư trú” vào khoản 3, điều 2 (mới), xem
đây là nhiệm vụ của đoàn viên: “3. Liên hệ mật thiết với thanh niên…tham gia
sinh hoạt Đoàn tại nơi cư trú”.
Trước
xu thế đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch lao động hiện nay,
nhiều địa bàn dân cư, đặc biệt là địa bàn đô thị và nông thôn, số lượng đoàn
viên (gốc) trên địa bàn ít, thậm chí có nơi không có đoàn viên (gốc). Đa số đoàn
viên ở các đô thị sinh hoạt ở trong trường học, trong cơ quan, trong doanh
nghiệp, chỉ có một bộ phận nhỏ thanh niên làm việc, sinh hoạt ngay trên địa bàn
dân cư.
Do
vậy, việc tổ chức cho đoàn viên tham gia sinh hoạt tại nơi cư trú và phát huy
trách nhiệm của đoàn viên tại nơi cư trú có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao
chất lượng tổ chức Đoàn ở địa bàn dân cư; nâng cao chất lượng đoàn viên (đặc
biệt là đoàn viên khối trường học, không tham gia sinh hoạt Đoàn tại trường
trong kỳ nghỉ hè).
4. Về quy định
thẩm quyền của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn được thực hiện thí điểm chủ trương
mới
Quy
định: “Ban Chấp hành Trung ương Đoàn được thực hiện thí điểm một số chủ
trương mới xuất phát từ thực tiễn công tác Đoàn và phong trào thanh
thiếu nhi”, kết cấu thành khoản 2, điều 12 (mới).
Nhiệm
kỳ Đại hội Đoàn toàn quốc là 5 năm, trong thời gian đó thực tiễn công tác Đoàn
và phong trào thanh thiếu nhi có những biến động, nhiều vấn đề mới nảy sinh. Đó
là tất yếu khách quan để phù hợp với thực tiễn phát triển ngày càng phong phú
của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế. Ví dụ: trong nhiệm kỳ qua có sự
sáp nhập hai Đoàn cấp tỉnh thành một Đoàn cấp tỉnh (Thành đoàn Hà Nội và Tỉnh
đoàn Hà Tây); hoặc Đoàn cấp tỉnh chuyển về Đoàn cấp tỉnh và trở thành Đoàn cấp
huyện (Đoàn Ngành đường sắt Việt Nam chuyển về trực thuộc Đoàn Khối Doanh
nghiệp Trung ương); Đoàn cấp tỉnh chuyển về trực thuộc Đoàn cấp huyện (Đoàn
Ngành Hàng không dân dụng Việt Nam chuyển về trực thuộc Đoàn Bộ Giao thông Vận
tải)… Có những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn nhưng không thể điều chỉnh ngay
trong nhiệm kỳ vì chỉ có Đại hội, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đoàn mới có
quyền sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đoàn.
Do
vậy, quy định như trên để Ban Chấp hành Trung ương Đoàn thẩm quyền được thực hiện
thí điểm chỉ đạo một số nội dung mới nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác
Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi trong điều kiện hiện nay.
5.
Về việc cho rút tên khỏi Ban Chấp hành
Quy
định tại khoản 3, điều 9 (mới): “Ủy viên Ban Chấp hành chuyển khỏi công tác
Đoàn thì thôi tham gia Ban Chấp hành và cho rút tên trong kỳ họp Ban Chấp hành
gần nhất. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành xem xét quyết định”.
Trong
thực tiễn, cơ cấu Ban Chấp hành các cấp phong phú, đa dạng; các Ủy viên Ban
Chấp hành dù ở các vị trí khác nhau, vẫn có khả năng đóng góp tích cực cho công
tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi. Quy định về việc cho rút tên Ủy viên
Ban Chấp hành như trên để tăng thẩm quyền và trách nhiệm của Ban Chấp hành
trong xem xét, quyết định các trường hợp cụ thể.
6.
Về vấn đề bổ sung Ủy viên Ban Chấp hành các cấp
Quy
định tại khoản 4, điều 9 (mới) như sau: Ban Chấp hành Đoàn cấp tỉnh trở xuống
khi khuyết thì được bổ sung không quá số lượng Ủy viên Ban Chấp hành do Đại hội
quyết định; Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khi khuyết thì Hội nghị Ban Chấp hành
bầu bổ sung nhưng không quá 2/3 số lượng Ủy viên Ban Chấp hành do Đại hội đại
biểu toàn quốc quyết định.
Theo
yêu cầu trẻ hóa đội ngũ cán bộ theo Quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và
thực tế cán bộ Đoàn thường luân chuyển nhanh dẫn tới việc số lượng Ủy viên Ban
Chấp hành cần kiện toàn, bổ sung nhiều; nếu quy định giới hạn số lượng Ủy viên
Ban Chấp hành được bổ sung trong nhiệm kỳ theo Điều lệ Đoàn khóa IX (không quá
1/2 đối với cấp Trung ương và không quá 2/3 đối với cấp tỉnh trở xuống) sẽ dẫn
đến khó khăn trong kiện toàn Ban Chấp hành ở các cấp, đặc biệt là giai đoạn
cuối nhiệm kỳ.
7.
Về vấn đề phân cấp trong hệ thống tổ chức Đoàn
Quy
định tại khoản 3, điều 6 (mới) như sau: “Ban Thường vụ Trung ương Đoàn quy định
cụ thể về phân cấp trong hệ thống tổ chức của Đoàn”.
Điều
lệ Đoàn quy định hệ thống tổ chức của Đoàn gồm 4 cấp (cấp trung ương; cấp tỉnh
và tương đương; cấp huyện và tương đương; cấp cơ sở).
Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển của tổ chức Đoàn và số lượng đoàn viên thì mô
hình tổ chức Đoàn ngày càng phong phú, đa dạng. Có những Đoàn cấp huyện hoặc
cấp cơ sở có nhiều đầu mối, số lượng đoàn viên đông khi thực hiện phân cấp như
quy định hiện hành thì hoạt động không hiệu quả, đòi hỏi cần có mô hình hoạt
động phù hợp; trong khi đó, hướng dẫn về phân cấp chưa rõ ràng và chưa hợp lý.
Thực
tiễn hiện nay do sự phát triển kinh tế, xã hội, các mô hình kinh tế, hành chính
ngày càng phong phú, đa dạng, đa cấp. Do vậy, vấn đề phân cấp có nhiều bất cập
trong thực tiễn. Ví dụ: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam có Đoàn Thanh niên
của Tập đoàn là Đoàn cấp huyện trực thuộc Đoàn Khối doanh nghiệp Trung ương.
Trong Đoàn Tập đoàn Dầu khí có Đoàn của các Tổng Công ty thành viên là Đoàn cấp
cơ sở. Trong Đoàn các Tổng Công ty có Đoàn của các Công ty; và có Công ty thành
lập trường. Vì vậy, rất khó sắp xếp vị trí (cấp) của các cấp nhỏ hơn.
Quy
định như trên để Ban Thường vụ Trung ương Đoàn có cơ sở Hướng dẫn việc phân cấp
trong hệ thống tổ chức Đoàn một cách hợp lý.
8.
Về vấn đề phân đoàn
Bổ
sung quy định về phân đoàn tại khoản 4, điều 17 (mới): “Chi đoàn có thể thành
lập các phân đoàn”.
Thực
tế hiện nay, có nhiều chi đoàn trong các doanh nghiệp, cơ quan có số lượng đoàn
viên lớn, địa bàn hoạt động, công tác không tập trung... dẫn đến khó khăn
trong việc sinh hoạt và tổ chức hoạt động tập trung của các chi đoàn.
Do vậy, quy định việc thành lập phân đoàn để tiện cho công tác sinh hoạt và
quản lý đoàn viên.
9.
Nêu rõ đối tượng khi bầu cử phải bỏ phiếu kín
Quy
định cụ thể hơn các đối tượng khi bầu cử phải thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu
kín tại khoản 1, điều 8 (mới) “bầu Ban Chấp hành và các chức danh trong Ban
Chấp hành; Ủy ban Kiểm tra và các chức danh trong Ủy Ban Kiểm tra; đại biểu dự
Đại hội Đoàn cấp trên”.
10.
Về Đại hội trực tiếp bầu Bí thư
Bổ sung quy định: “Đại hội chi đoàn và Đại hội Đoàn các cấp được trực tiếp bầu Bí thư khi được sự thống nhất của Đoàn cấp trên trực tiếp và cấp ủy Đảng cùng cấp” vào khoản 4, điều 8 (mới).
Bổ sung quy định: “Đại hội chi đoàn và Đại hội Đoàn các cấp được trực tiếp bầu Bí thư khi được sự thống nhất của Đoàn cấp trên trực tiếp và cấp ủy Đảng cùng cấp” vào khoản 4, điều 8 (mới).
Kết
quả chỉ đạo Đại hội Đoàn các cấp nhiệm kỳ 2012 – 2017 vừa qua cho thấy, Đại hội
Đoàn trực tiếp bầu Bí thư góp phần tăng cường quyền dân chủ trực tiếp của cán
bộ, đoàn viên trong việc bầu Bí thư Đoàn các cấp; phát huy trách nhiệm, trí tuệ
của cán bộ, đoàn viên trong việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự bầu chức danh Bí
thư; khắc phục tình trạng dân chủ hình thức, cục bộ, được cấp ủy Đảng, cán bộ,
đoàn viên thanh niên đánh giá cao.
11. Về thẩm quyền kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ Đại hội Đoàn các cấp
Bổ sung quy định:
- Ban
Chấp hành Trung ương Đoàn quyết định việc “điều chỉnh nhiệm kỳ Đại hội đại biểu
toàn quốc khi được sự đồng ý của Ban Bí thư Trung ương Đảng; kéo dài hoặc rút
ngắn nhiệm kỳ Đại hội đại biểu cấp tỉnh khi cần” vào khoản 2, điều 12 (mới).
-
“Ban Thường vụ Đoàn cấp tỉnh được quyết định kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ Đại hội
Đoàn cấp huyện và cấp cơ sở để phù hợp với nhiệm kỳ chung nhưng không quá nửa
nhiệm kỳ của cấp đó” vào khoản 3, điều 16 (mới).
Trong
thực tế, có các tổ chức Đoàn được thành lập mới (do chia tách, sáp nhập, hợp
nhất hoặc thành lập mới ở các đơn vị chưa có tổ chức Đoàn) dẫn đến thời gian tổ
chức Đại hội của các đơn vị này không trùng với thời gian tổ chức Đại hội của
Đoàn cấp trên trực tiếp, gây khó khăn cho công tác của Đoàn. Do đó, cần bổ sung
quy định về kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ Đại hội Đoàn các cấp để tạo thuận lợi
cho công tác của Đoàn, vừa tạo sự chủ động cho Đoàn cấp tỉnh trong chỉ đạo
thống nhất thời gian tổ chức Đại hội của cấp huyện và cấp cơ sở. Mặt khác, hiện
nay nhiệm kỳ Đại hội của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lệch so với nhiệm kỳ Đại hội
Đảng 2 năm. Theo định hướng của Ban Bí thư Trung ương Đảng, cần điều chỉnh
nhiệm kỳ Đại hội Đoàn sát với nhiệm kỳ Đại hội Đảng, tạo thuận lợi cho tổ chức
thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng. Trên cơ sở quy định này, Ban Thường vụ Trung
ương Đoàn sẽ hướng dẫn cụ thể khoảng thời gian được kéo dài, rút ngắn để đảm
bảo tính chặt chẽ trong quá trình tổ chức thực hiện.
12.
Về tổ chức Đoàn trong Công an nhân dân Việt Nam
Bổ
sung mới điều 26 (gồm 2 khoản) vào Chương Tổ chức Đoàn trong Quân đội nhân dân
Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam để phù hợp với mô hình Ban Chấp hành cấp
trên cơ sở trong Công an nhân dân.
13.
Về vấn đề kỷ luật tổ chức Đoàn
- Quy
định về các hình thức kỷ luật của Đoàn tại khoản 2 điều 32 Điều lệ Đoàn khóa X,
như sau:
“- Đối với cơ quan lãnh đạo của Đoàn: Khiển trách,
cảnh cáo, giải tán.
- Đối
với cán bộ Đoàn: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ (nếu còn là đoàn
viên).
- Đối với đoàn viên: Khiển trách, cảnh cáo, khai
trừ.”
Đồng thời bỏ quy định về các hình thức kỷ luật đối với tổ chức Đoàn.
Đồng thời bỏ quy định về các hình thức kỷ luật đối với tổ chức Đoàn.
Về
mặt lý luận và thực tiễn, tổ chức Đoàn tồn tại khách quan, độc lập với việc vi
phạm kỷ luật của cán bộ, đoàn viên. Mặt khác, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đặt dưới sự
lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của tổ chức Đảng; là đội dự bị tin cậy của Đảng;
là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên; chức năng chính của Đoàn là giáo
dục, rèn luyện, bồi dưỡng đoàn viên, thanh niên. Bản thân tổ chức Đoàn thì
không vi phạm kỷ luật. Nếu đoàn viên vi phạm thì không thể kỷ luật tổ chức
Đoàn, mà chỉ kỷ luật đoàn viên hoặc cơ quan lãnh đạo của Đoàn ở cấp đó, vì
buông lỏng quản lý, giáo dục, rèn luyện đoàn viên vi phạm kỷ luật. Về thực
tiễn, không thể kỷ luật giải tán Xã đoàn A, Huyện đoàn B, Tỉnh đoàn C hoặc Đoàn
Thanh niên Công ty (Trường học) D được; cho dù có giải tán thì cũng phải thành
lập lại ngay chính tổ chức Đoàn đó để làm nhiệm vụ giáo dục đoàn viên, đoàn
kết, tập hợp thanh niên, không thể chuyển đoàn viên (không vi phạm kỷ luật) của
xã A, huyện B, tỉnh C… sang sinh hoạt ở đơn vị khác như quy định của Điều lệ
hiện hành.
Vì
vậy, hình thức kỷ luật chỉ nên áp dụng đối với cá nhân và cơ quan lãnh đạo của
Đoàn (Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đoàn các cấp, Ban Bí thư Trung ương Đoàn).
- Bổ
sung Điều 35 (mới) như sau: “Ban Thường vụ Trung ương Đoàn hướng dẫn thực hiện
quy trình kỷ luật; công nhận tiến bộ, hết thời hạn áp dụng hình thức kỷ luật,
xóa hình thức kỷ luật và giới thiệu ứng cử, đề cử, bổ nhiệm vào các chức vụ
lãnh đạo Đoàn các cấp đối với cán bộ, đoàn viên bị kỷ luật đã tiến bộ và hết
thời hạn áp dụng hình thức kỷ luật”.
Bổ
sung nội dung trên để giải quyết mối quan hệ giữa vi phạm và tiến bộ; kỷ luật
và xem xét giới thiệu ứng cử, đề cử, bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo Đoàn các
cấp đối với cán bộ, đoàn viên bị kỷ luật...
RSS Feed
Twitter




0 comments:
Post a Comment